Dạy học là nghề đào tạo nên mọi nghề khác''

Ngày 16 tháng 01 năm 2017


Năm 2011

Cập nhật lúc : 00:00 02/03/2011  

Chợ Tết

HỒN QUÊ TRONG “CHỢ TẾT”

LÊ ĐỨC ĐỒNG

Trường THPT chuyên, Nguyễn Thị Minh Khai, Tỉnh Sóc Trăng

Tự bao đời, sau lũy tre làng là cả một không gian nông thôn đầy ắp bóng mát của cây vườn, của tre trúc bao quanh. Ở đó, hồn quê như đọng lại, ít đổi dời bởi nhịp sống diễn ra chầm chậm; không ồn ào như chốn thị thành. Những nét đẹp truyền thống của ngàn xưa như được ấp ủ, chắt chiu, chờ dịp tết đến xuân về mới có dịp thăng hoa.

Bài thơ "Chợ Tết" của nhà thơ Đoàn Văn Cừ đã ghi lại một cách sinh động, mang đầy tâm trạng của một con người trước cảnh chợ ngày Tết - mà nơi đó phô bày những nét đẹp hồn nhiên, sâu xa của hồn quê...

Càng lùi xa theo dòng năm tháng, "Chợ Tết" càng được người đọc quý mến trước một tấm hình ghi lại một cách sống động cảnh sinh hoạt tiêu biểu của làng quê và chỉ có chốn làng quê mới có được cảnh sắc hồn hậu này.

Thời gian nghệ thuật trong bài "Chợ Tết" càng được cấu trúc theo thời gian tuyến tính. Chợ được bắt đầu nhóm họp vào lúc trời còn mờ sương. Mở đầu là cảnh sáng sớm, mọi người náo nức đến chợ trong niềm vui lan sang cùng cây cỏ, đất trời: "Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi/ Sương hồng lam ôm ấp mái nhà gianh/ Trên con đường viền trắng mép đồi xanh/ Người các ấp tưng bừng đi chợ tết".

Từng mảng sắc màu thiên nhiên đan xen vào nhau, tạo cho cảnh vật có một không gian đầy vẻ thanh bình, yên ắng. Màu mây trắng đỏ dần, sương có màu hồng lam, con đường viền trắng, đồi màu xanh - chỉ bốn câu thơ mà đã có sáu màu hòa lẫn. Thơ Đoàn Văn Cừ giàu màu sắc tươi vui bởi tâm hồn ông gắn bó máu thịt cùng đồng quê, làng xóm... Cách tả cái nắng của ông cũng có nhiều khác lạ. Nắng ở đây xao động; trong nắng lại có gió và màu vàng của nắng trộn lẫn cùng màu xanh của đồng lúa tạo nên màu "nắng tía" lung linh, sống động (Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa). Sức sống của mùa xuân thật kỳ diệu! Nó biến giọt sương mai thành giọt sữa nồng nàn, cội nguồn của sự sống (Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa). Nó làm cho cả núi cả đồi cũng thi nhau làm duyên khi xuân về (Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh/ Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh).

Nói đến chợ, đặc biệt là chợ ngày tết là nói đến không gian sắc màu. Nếu ở trên miêu tả sắc màu thiên nhiên thì ở đoạn dưới là sắc màu của trăm hồng ngàn tía của cuộc sống đời thường khoe sắc trong nắng ban mai. Toàn bài thơ có tới hai mươi ba màu khác nhau nhưng cùng tô điểm thêm cho ngày chợ tết thanh bình, náo nhiệt.

Trẻ con thích cùng người lớn đi chợ tết vì được ngắm thỏa thích những món hàng, đồ vật mà nhiều khi chỉ trong chiêm bao mới thấy. Nếu tuổi ấu thơ của Nguyễn Duy "níu váy bà đi chợ Bình Lâm" thì mấy cậu nhóc ngày xưa cũng cùng tâm trạng khi được đi chợ chung trong đoàn người: "Những thằng cu áo đỏ chạy lon ton/ Vài cụ già chống gậy bước lom khom/ Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ/ Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ".

Mỗi đứa trẻ đều có nét thần sắc riêng, những nét sắc sảo riêng mà chỉ có tác giả "Chợ tết" mới cảm nhận được qua từng hành động, cử chỉ (thằng cu - chạy lon ton, cụ già chống gậy bước lom khom; riêng cô gái còn e ấp, còn ngại ngùng khi đến giữa đám đông nên "che môi cười lặng lẽ").

Một hình ảnh hết sức độc đáo, thật ngộ nghĩnh, chắc chỉ xảy ra trong khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng tác giả kịp thời ghi lại được (Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu/ Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau).

Nắng sớm đã lên và cảnh họp chợ diễn ra thật ồn ào, náo nhiệt. Miêu tả làm sao cho người đọc thấy được cảnh chen lẫn, cảnh nhốn nháo, đông đúc của toàn cảnh. Nhưng lại đặc tả được chi tiết ở từng người, từng vật; thấy được cả tập quán, phong tục đến đặc tính của mỗi hạng người là điều không dễ dàng chút nào! Vậy mà người đọc vẫn không chán, vẫn hồi hộp, mê say dõi theo chợ tết từ lúc họp cho tới lúc vãn chợ.

Thông thường nơi bán trâu ở ngay đầu cổng chợ vì trâu là loài gia súc lớn, không thể dắt nhong nhong vô chợ đông người ngày tết được. Điều đặc sắc ở đây là ông dùng biện pháp nhân hóa để miêu tả con trâu cũng có "tâm trạng" như con người (Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ/ Để lắng nghe người khách nói bô bô). Người khách mua trâu (còn gọi là lái trâu) thường mỗi khi ra một giá là một lần vỗ tay đánh đét một cái. Cứ như vậy chừng nào thuận mua vừa bán mới thôi và họ ngồi gần nhau như chưa hề có cảnh vỗ tay, gân cổ trả giá "quyết lệt" xảy ra hồi nãy.

Có những cảnh gợi lên một thời xa vắng, một thời đầy sắc màu cổ tích trong cảnh chợ quê ngày tết. Đọc lại thấy bùi ngùi bởi : "những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ?". Cứ tưởng tượng trong khói hương trầm ngào ngạt, trong bảng lảng sương mờ; có những cảnh bây giờ chỉ còn trong trang sách phong tục: "Anh hàng tranh kĩu kịt quảy đôi bồ/ Tìm đến chỗ đông người ngồi dở bán/ Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản/Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân/ Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm/ Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ".

Cách miêu tả khá độc đáo: chấm vào những nét "đắc địa" nhất của từng nhân vật. Anh hàng tranh, quảy đôi bồ tranh nặng thì "kíu kịt"; thầy khóa phải "gò lưng" tay thì "mài nghiên" để "hý hoái" ra chiều đam mê công việc này lắm khi "viết thơ xuân" . Cụ đồ nho như tiếc nuỗi một thời trước hàng câu đối đỏ qua động tác "vuốt râu cằm" "nhẩm đọc"...

 Có thể nói câu thơ tài hoa nhất của bài thơ là câu tả hình ảnh bà cụ với cái nền ngôi miếu cổ nổi bật màu tóc trắng bởi dòng nước thời gian. (Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ/ Nước thời gian gội tóc trăng phau phau). Ở đây, thời gian được ví như nước và "màu tóc trắng" khéo lẽo diễn tả bước đi của thời gian qua một đời người. Vô tư, hồn nhiên nhất là đám trẻ con và những  cô thôn nữ mới lớn. Chính những thiên thần này háo hức với chợ, nhạy cảm với những sắc màu, những diễn biến của cảnh bán mua ồn ào, náo nhiệt: "Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà/Quên cả chị bên đường đang đứng gọi/ Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi/ Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa".

Những "bức tranh gà" có sưc hút lũ trẻ ghê gớm, mặc cho chị gọi khản cổ mà chẳng chịu buông ra để đi về và những cô giá thôn quê - không biết họ nghe kể chuyện gì, thích cái gì mà cứ "ôm nhau cười" tưởng chừng không dứt. Tác giả đã thấy được tính cách của những nàng thôn nữ tuổi trăng tròn, vừa muốn không cho ai thấy mình vừa muốn ai cũng chú ý đến mình.

Rồi những sản vật ngày chợ tết được bày ra, phô ra để mời gọi, hấp dẫn người mua với những sắc màu bắt mắt và cảnh bán mua, xem xét được miêu tả rất độc đáo, sống động như ta vừa chứng kiến một đoạn phim (Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha/ Thúng gạo nếp chất đầy như núi tuyết/ Con gà mào thâm như cục tiết/ Một người mua cầm cẳng dốc lên xem).

Chợ tưng bừng, náo nhiệt như thế, sôi động như thế nhưng cũng có lúc phải vãn. Mọi người lần lượt trở về nhà, để lại đằng sau là cảnh chợ vắng bóng người, vắng những tiếng rì rầm to nhỏ bán mua... Và ta như nghe cả tiếng thở dài tiếc nuối của thời gian, của đất trời khi chợ tết đã tan: "Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê/ Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ".

Chợ quê bây giờ hãy còn nhưng cảnh sắc chợ quê xưa hầu như dần vắng bóng. Đâu rồi những háo hức, những đợi chờ ngày tết đến để được đi chợ cùng mẹ, cùng bà. Đâu rồi những năm tháng ấu thơ, nghe mùi hương trầm biết tết thấp thoáng về bên cửa? Đâu rồi những thôn nữ chợ quê "ôm nhau cười rũ rượi", tiếng cười hồn nhiên còn vọng tới bây giờ?

Đọc lại "Chợ tết", ta nghe hồn quê gọi về trong gió. Hồn quê một thuở có còn không? Hồn quê vẫn mãi mãi còn, bởi dù chốn thị thành không cây đa, bến nước - nhưng mỗi người khi bước chân vào thị thành đô hội, nhìn kỹ lại vẫn thấy gót chân mình còn vương vệt bùn của đất Mẹ ngàn năm...

L.Đ.Đ